Vietchamexpo

Vietchamexpo Tổ chức Triển Lãm Chuyên ngành Quốc Tế, Hội nghị, Hội thảo, Xúc tiến thương mại. Leading Exhibitions, fairs organizer in Vietnam. Trade Promotion

CÔNG TY CHÚNG TÔI
Từ khi thành lập ban đầu vào năm 2000, Công ty TNHH Tổ chức Triển lãm VCCI (VietchamExpo – VCE) đã phát triển năng động và không ngừng để trở thành một trong những nhà tổ chức chuyên nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực dịch vụ triển lãm và hội nghị tại Việt Nam. Chúng tôi rất tự hào thông báo rằng VCE đã được công nhận bởi UFI- Hiệp hội thế giới dành cho hội chợ, triển lãm thương mại

và là tổ chức duy nhất trên toàn thế giới trong lĩnh vực này. Các chương trình và sự kiện được tổ chức bởi VCE rất phong phú đa dạng, trong đó bao gồm nhiều nhóm ngành công nghiệp chuyên ngành bao gồm: chế biến và đóng gói, phòng thí nghiệm và thử nghiệm, thiết bị thực phẩm, khách sạn, du lịch, phục vụ bán lẻ, quản lý khách sạn, kỹ thuật điện và tự động hóa công nghiệp, chiếu sáng và các công nghệ xây dựng, khai thác mỏ và phục hồi khoáng sản, hàng may mặc, vải và các phụ kiện, đồ trang sức và đồng hồ, cơ khí chính xác, máy công cụ và kim loại, vv

Hàng năm, với sự hỗ trợ của Bộ Công Thương Việt Nam và Cục Xúc tiến thương mại Việt Nam, VCE đã tổ chức các chuyến đi và đưa các đại biểu đến tham dự triển lãm, hội chợ quốc tế tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, vv. Chúng tôi giúp giới thiệu những bản sắc văn hóa đặc sắc riêng biệt của Việt Nam, quảng bá, xúc tiến các ngành hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, đem đến những ấn tượng tốt cho khách tham quan. Chúng tôi cũng góp phần vào sự thành công trong việc giới thiệu và duy trì hình ảnh tốt đẹp của Việt Nam với bạn bè trên toàn thế giới. Các Triển lãm quan trọng của chúng tôi bao gồm ProPak Việt Nam, Pharmatech Việt Nam, Labs & TestViệt Nam, May Sài Gòn & Phụ kiện Máy móc, Food & Hotel Việt Nam, Đồng hồ & trang sức quốc tế Việt Nam, MTA Việt Nam, Khai thác mỏ Việt Nam, Elenex Việt Nam, Triển lãm thực phẩm và đồ uống Hoa Kỳ và Hội chợ Thương mại quốc Marseille (Pháp). Tại VCE, chúng tôi có các chuyên gia trên các lĩnh vực khác nhau như tổ chức hội nghị, hội thảo, tổ chức tư vấn triển lãm & hội chợ, thương mại và đầu tư, xúc tiến sự kiện và quảng cáo. Hãy ghé qua văn phòng của chúng tôi và cùng trò chuyện về việc làm thế nào chúng ta có thể giúp xây dựng thương hiệu và công ty của bạn phát triển hơn.

Đồng thời, chúng tôi cũng hiểu sự quan trọng của việc lựa chọn đúng những ngành công nghiệp người, đúng địa điểm và đúng triển lãm để kết nối với đúng người mua , từ đó xác lập sự khác biệt giữa một chương trình Triển lãm tốt với một chương trình Triển lãm tuyệt vời! Mỗi triển lãm của VCE được quản lý với tiêu chuẩn cao nhất, đống hành với tính chuyên nghiệp, chính xác, và sự nhạy bén tuyệt vời trong kinh doanh. NHIỆM VỤ CỦA CHÚNG TÔI

Tại VCE, chúng tôi theo đuổi sự xuất sắc trong mọi việc chúng tôi làm, tạo ra các giải pháp thích hợp cho riêng từng triển lãm và gói dịch vụ cho các khách hàng. Chúng tôi đồng hành với khách hàng trong mỗi bước đi và chúng tôi đảm bảo sự thành công. Chúng tôi có những người tốt nhất để làm việc trên từng dự án, mang đến sự hài lòng cho khách hàng, gìn giữ sự tin tưởng và duy trì mối quan hệ đối tác thân thiết.Chúng tôi cũng hiểu được tầm quan trọng và chúng tôi đặt ra các tiêu chuẩn rất cao đối với những dịch vụ dành cho khách hàng. Không bàn tới việc qui mô Triển lãm lớn hay nhỏ, chúng tôi luôn cung cấp những dịch vụ đi kèm tốt nhất đối với tất cả các khách hàng. Chúng tôi luôn luôn có mặt, từ những bước đầu khi lên kế hoạch cho các Triển lãm cho đến khi kết thúc với sự hài lòng cao nhất dành cho tất cả mọi người. Chúng tôi hoan nghênh tất cả các yêu cầu của khách hàng, từ những dự án được xây dựng dành riêng cho những khách hàng cá nhân cho đến việc tổ chức một chương trình triển lãm hoàn thiện với mục tiêu đem đến sự hoàn hảo. OUR COMPANY

From the initial establishment in 2000, VCCI Exhibition Service Co., Ltd ( VietchamExpo – a.k.a VCE) has developed dynamically and unstoppably to become one of the leading professional organizers in exhibition and conference services nationally and regionally. We are proud to announce that VCE was recognized by UFI- the world association of trade fairs and exhibitions and is the only worldwide organization in its field. The programme of events organized by VCE are various, which cover many specialized industry group including: processing and packaging, laboratory and test equipment, food and hospitality, retail, travel catering, hotel management, electrical engineering and industrial automation, lighting and building technologies, mining and mineral recovery, garment, fabric and accessories, jewelry and watch, precision engineering, machine tools and metalworking, etc. Each year, with the support of Vietnam Ministry of Trade and Industry, as well as Vietnam Department of Trade promotion, VCE has organized trips and lead delegates to attend international exhibitions and fairs in the United States, France, Germany, ect. We help to transfer the unique color of Vietnam, promote Vietnam’s key export sectors, placing good impression to the visitors. We also contributed to the success of introducing and maintaining the beautiful image of Vietnam to friends all over the world. Our key events include Propak Vietnam, Pharmatech Vietnam, Labs & Test Vietnam, Saigon Garment & Accessories Machinery, Food & Hotel Vietnam, International Watch & Jewelry Vietnam, MTA Vietnam, Mining Vietnam, Elenex Vietnam, Summer Fancy Food Show (USA) and Marseille’s International Trade Fair (France). Also at VCE, we have specialists across disciplines such as organizing conferences, seminars, organizing exhibition & fair, trade and investment consultancy, event promotion and advertising. Drop by our office and let's have a chat about how we can help drive your business by delivering a complete package. We understand the important of bringing the right industry people, the right venue, and the right exhibitor to the right buyers, which formulates the difference between an adequate show, and a great one! Every exhibition of VCE is managed to the highest standard, with precision, professionalism, and smart business sense. OUR MISSION

At VCE, we pursuit excellence in every work we do, to create exceptional exhibition solutions and service to our clients. We work hand in hand with customer and we guarantee success. Our focus is on accomplishing the best show results and we get the very best people to work on each project, giving customer satisfaction and maintaining trust & close parnership. Great emphasis is also placed on our high standards of workmanship and personal service. No matter how large or small an exhibition, our team of highly experienced people offer a first class installation and back-up service. We are from the generation of the initial floorplan through to the realization of the exhibition. We welcome all enquiries, from individual custom build stands through to full scheme exhibitions.

16/01/2021

Cách đuổi sâu, rệp trên cây bằng Biɑ hiệu quả, an toàn 23 Tháng Mười Hai, 2020 Share on Facebook Tweet on Twitter Chẳng mấy ai tin bi a lại có tác dụng giúp rau xanh, cây trồng, hoa tươi tốt, lớn nhanh như thổi. Tuy nhiên, một ví dụ về người nô...

25/06/2019

Linh Quy Pháp Ấn, Hoa Sơn Điền Trang, Đồi chè Cầu Đất, Cánh đồng hoa,Cà phê F, Mê Linh Garden Coffee, Fresh Garden

07/04/2019

Nam ca sĩ trang trí thêm góc thư giãn, đọc sách và màn hình xem phim hơn 100 inch, tạo điểm nhấn cho ngôi nhà tại TPHCM.

02/02/2017

Với góc nhìn lạ, người xem có thể cảm nhận về đất nước Singapore theo một cách hoàn toàn mới. - Ngôi sao

29/07/2016

HỘI THẢO VÀ KẾT NỐI KINH DOANH GLOBAL K FOOD 2016

Với mục tiêu thiết lập các mối quan hệ kinh doanh giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Hàn Quốc, nhằm góp phần làm đa dạng hoá các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của người tiêu dùng Việt Nam, Công ty tổ chức Triển lãm VCCI phối hợp với đối tác Hàn Quốc tổ chức buổi giao lưu gặp gỡ làm việc và trao đổi tay đôi với đoàn doanh nghiệp thương mại Hàn Quốc tại GEM Center vào các ngày 08 và 09 tháng 09 năm 2016.

Với hơn 30 doanh nghiệp Hàn Quốc tham gia chương trình do Chính phủ Hàn Quốc xúc tiến là các doanh nghiệp hàng đầu thuộc ngành thực phẩm và đồ uống của Hàn Quốc, mong muốn được gặp gỡ, trao đổi và làm việc trực tiếp với đối tác Việt Nam. Các doanh nghiệp Hàn Quốc sẽ giới thiệu các đặc sản địa phương đã có uy tín tại thị trường Hàn Quốc cũng như Quốc tế… đến với các nhà sản xuất và người tiêu dùng Việt Nam thông qua việc giới thiệu sản phẩm, các buổi làm việc tay đôi nhằm thiết lập các cơ hội kinh doanh.

Đây là chương trình rất hữu ích, một cơ hội không thể bỏ lỡ để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với các sản phẩm Hàn Quốc, là bước khởi đầu cho việc thiết lập các mối quan hệ với các doanh nghiệp Hàn Quốc, trao đổi kinh nghiệm kinh doanh và tăng cường thu hút đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam.

Ban Tổ chức trân trọng kính mời Quý doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống có quan tâm đến phát triển kinh doanh và xuất nhập khẩu với Hàn Quốc đến tham dự chương trình.

Công ty Tổ chức Triển lãm VCCI
Giám đốc Dự án

Trần Việt Dũng

Xin vui lòng xác nhận trước ngày 12/08/2016.
Người liên hệ: Mr. Minh Quý – 0907 616 205 – Email: [email protected]

22/02/2016

Hội nhập TPP: Điều quan trọng là phải ủng hộ người đi tiên phong

Về vấn đề cần chú trọng trong hội nhập TPP, việc quan tâm hỗ trợ nhóm yếu thế là không sai, nhưng điều quan trọng là phải ủng hộ những người thắng cuộc, người đi tiên phong, đó sẽ là những người dẫn dắt cuộc chơi...


TPP
Các chuyên gia thảo luận tại Hội thảo.
Đây là quan điểm của chuyên gia Võ Trí Thành trình bày trong cuộc thảo luận bàn tròn tại Hội thảo Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) – Những điều doanh nghiệp cần biết, do Trung tâm WTO và Hội nhập (thuộc Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam – VCCI) tổ chức sáng 28/1.

Vi phạm sở hữu trí tuệ sẽ bị xử lý hình sự nhiều hơn

Tại hội thảo các chuyên gia đã cùng thảo luận về nhiều vấn đề Việt Nam cần lưu ý khi gia nhập TPP.

Trong các thoả thuận TPP, một vấn đề được coi là “gay cấn” nhất là sở hữu trí tuệ. Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập cho biết, trong TPP có những nước xuất khẩu sở hữu trí tuệ là chủ yếu, nên họ muốn nâng cao bảo vệ quyền lợi của các nước sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, là một nước chủ yếu nhập khẩu sở hữu trí tuệ, DN Việt Nam phải hết sức lưu ý các quy định mới về sở hữu trí tuệ. Theo đó, số hành vi vi phạm sẽ bị xử lý hình sự nhiều hơn hẳn, với các chi tiết tăng nặng hơn. Dù chỉ là hành vi vi phạm mang tính cá nhân, không nhằm mục đích thương mại, nhưng nếu gây thiệt hại cho chủ sở hữu sẽ vẫn bị xử lý hình sự.

Đối với vấn đề người lao động, mặc dù có nhiều ý kiến lo lắng nhưng trên thực tế, các quy định của TPP về lao động không có gì mới. Riêng vấn đề về quyền tự do liên kết của người lao động (thành lập công đoàn), Việt Nam có cam kết song phương với Hoa Kỳ về vấn đề này. Theo đó, nếu Việt Nam không thực thi, Hoa Kỳ có quyền đơn phương ngừng các ưu đãi thuế quan.

Doanh nghiệp chưa chuẩn bị nhiều cho TPP

Lo lắng DN Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh hội nhập, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhắc lại thực tế trong quá trình đổi mới, hội nhập 30 năm qua, DN Việt Nam vẫn rất nhỏ bé, chưa tận dụng được nhiều lợi ích từ việc mở cửa thị trường. Ngược lại, các DN FDI đã tận dụng tốt các lợi thế này để mở rộng thị trường, đẩy lùi thị phần của các DN Việt Nam ngay tại thị trường trong nước.

Nhận thức được vấn đề này, từ hai năm nay, Chính phủ đã có Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, được cộng đồng quốc tế và nhà đầu tư đánh giá cao. Tuy nhiên, qua hai năm triển khai, đến nay chỉ có 2 bộ và 3 địa phương có triển khai tích cực và kết quả rõ ràng từ việc thực hiện Nghị quyết này. “Các bộ, ngành, địa phương vẫn rất thờ ơ với việc cải thiện môi trường kinh doanh, coi đó là chuyện của DN”, bà Phạm Chi Lan trăn trở.

Bên cạnh sự thiếu quyết liệt của một số bộ, ngành, địa phương, một khó khăn đối với các DN là bản thân họ thiếu sự chuẩn bị phù hợp, cho rằng hội nhập 5 – 10 năm tới mới giảm thuế, nên “chưa cần lo”.

Ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Uỷ ban tư vấn Chính sách Thương mại quốc tế VCCI cho biết, trong quá trình đi khảo sát, nhiều doanh nghiệp, người nông dân có hiểu biết rất sơ sài về hội nhập TPP nói riêng và các thoả thuận hội nhập khác nói chung, sự chuẩn bị hầu như không có. “Người Việt Nam có câu, 'nước đến chân mới nhảy', không biết lần này chúng ta có 'nhảy' qua không”, ông Huỳnh ví von.

Để thành công, cũng phải “liều”

Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành lại đưa ra một góc nhìn khác về hội nhập TPP. Theo ông Thành, không nên chỉ lo ngại về hội nhập mà cần phải tự tin, phải “liều”. Những thành công trong hội nhập của 20 năm qua khi chúng ta ký Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ, gia nhập ASEAN, tham gia WTO đã chứng minh nguyên lý, trong hội nhập quan trọng không phải là lợi thế tuyệt đối mà là lợi thế so sánh. Đó là lý do Việt Nam có thể bắt tay cùng các nước lớn, tham gia hiệp định tiêu chuẩn cao bậc nhất thế giới như TPP.

Nêu quan điểm khác về vấn đề cần chú trọng trong hội nhập TPP, ông Võ Trí Thành cho rằng việc quan tâm hỗ trợ nhóm yếu thế là không sai, nhưng điều quan trọng là phải ủng hộ những người thắng cuộc, người đi tiên phong, đó sẽ là những người dẫn dắt cuộc chơi. Những thách thức lớn nhất của TPP với Việt Nam không phải là ủng hộ những người yếu thế, mà là tạo cơ hội cho những người mạnh nhất để cạnh tranh, để tạo việc làm cho hàng triệu người lao động.

“TPP tạo điều kiện cho chúng ta chơi với những người giỏi nhất, nước lớn nhất. Đó chính là cơ hội để chúng ta lớn lên. Một khi đã làm quen với TPP, chi phí tuân thủ của DN sẽ giảm rất nhiều, môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh hơn. Hy vọng với các cải cách hiện nay của Chính phủ, trong 5 – 10 năm tới chúng ta sẽ có giới DN phát triển đúng nghĩa”, ông Võ Trí Thành chia sẻ./.

H.Y (Thời báo tài chính Việt nam)

22/02/2016
11/11/2015

Định hướng khai thác khoáng sản Việt Nam
Để bạn đọc, doanh nghiệp tham khảo thêm về thực trạng cũng như định hướng phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, Báo Công Thương xin trân trọng giới thiệu bài viết về vấn đề này của ông Nguyễn Mạnh Quân- Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương.

Tiềm năng khoáng sản VN

Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng về chủng loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than); nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, cromít, titan, mangan); nhóm khoáng sản kim loại màu (bôxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý); nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp (Apatít, cao lanh, cát thuỷ tinh); nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát).

Công nghiệp khai khoáng Việt Nam bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ 19 do Pháp khởi xướng, từ năm 1955, Việt Nam đã tiếp quản, duy trì và phát triển các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản. Đến nay, đã tiến hành điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mới trên 5.000 điểm khoáng và mỏ. Đã đánh giá được một số loại khoáng sản có giá trị công nghiệp và trữ lượng dự báo lớn như: dầu-khí (1,2 tỷ-1,7 tỷ m3); than (240 tỷ tấn), sắt (2 tỷ tấn), đồng (1 triệu tấn kim loại), titan (600 triệu tấn khoáng vật nặng), bôxit (10 tỷ tấn), chì kẽm, thiếc, apatít (2 tỷ tấn), đất hiếm (11 triệu tấn) các khoáng sản làm vật liệu xây dựng (52 tỷ m3) và một số loại khoáng sản khác. Nhiều loại khoáng sản đã được khai thác phục vụ cho nhu cầu trong nước và một phần cho xuất khẩu.

Trong các loại khoáng sản trên, trừ khoáng sản dầu khí, than, sắt, titan apatit v.v. đã được thăm dò tương đối cơ bản và chắc chắn, các khoáng sản kim loại còn lại gồm kim loại màu, khoáng sản quý... thăm dò mới ở mức độ điều tra cơ bản (tìm kiếm); trước khi đầu tư khai thác, các doanh nghiệp đều phải tiến hành thăm dò tỷ mỷ, bổ sung để hạn chế rủi ro.

Tình hình khai thác một số khoáng sản chủ yếu ở Việt Nam

Do tính chất và mục đích sử dụng của từng nhóm khoáng sản, đối với một số loại khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn, Chính phủ VN giao cho một số doanh nghiệp nhà nước đảm nhận vai trò nòng cốt, cụ thể nh­ư sau:
- Khai thác và chế biến dầu khí giao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
- Khai thác và chế biến than và các khoáng sản khác giao cho Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).
- Khai thác và chế biến khoáng sản hoá chất (apatit) chủ yếu giao cho Tập đoàn Hoá chất Việt Nam.
- Khai thác, chế biến quặng sắt chủ yếu do Tổng công ty Thép Việt Nam, Tập đoàn Vinacomin thực hiện.
- Khai thác, chế biến vật liệu xây dựng chủ yếu giao cho Tổng công ty Xi măng VN và các doanh nghiệp ngành xây dựng, giao thông vận tải thực hiện (ngành khoáng sản VLXD do Bộ Xây dựng quản lý).

Ngoài ra tham gia khai thác, chế biến các điểm mỏ khoáng sản quy mô nhỏ ở các địa phương có rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần. Tổng số các doanh nghiệp khai khoáng (kể cả vật liệu xây dựng) đến nay khoảng 1.100 doanh nghiệp.

Sản lượng khai thác/năm một số loại khoáng sản chủ yếu năm 2012 như sau: dầu thô 16 triệu tấn; than thương phẩm 40 triệu tấn; tinh quặng ilmenite 0,6 triệu tấn, quặng sắt 3,0 triệu tấn; tinh quặng apattit 2,4 triệu tấn; đồng-50 ngàn tấn tinh quặng; barit 150 ngàn tấn bột v.v.

Trong những năm qua, ngành CN khai khoáng đã đóng vai trò quan trọng và tích cực trong sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam và nền kinh tế đất nước. Đã cơ bản đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liêụ cho nền kinh tế quốc dân như ngành than đã cung ứng đầy đủ và kịp thời nguyên liệu cho ngành điện, xi măng, hoá chất, giấy; khoáng sản thiếc, chì kẽm, sắt đã cung ứng đủ cho ngành luyện kim; khoáng sản apatit đã cúng cấp đủ cho ngành Hoá chất, phân bón. Đồng thời khoáng sản và sản phẩm chế biến của khoáng sản đã có một phần xuất khẩu. 2 loại khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là dầu khí và than (năm 2012 khoảng 10 tỷ USD).

Chính sách phát triển công nghiệp khai khoáng

Chiến lược phát triển khoáng sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011 với các nội dung chủ yếu sau:

Quan điểm phát triển

- Khoáng sản VN là tài nguyên không tái tạo, có trữ lượng hạn chế, vì vậy, phải được điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ tốt môi trường sinh thái, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng tại các địa bàn có khoáng sản
- Xây dựng và phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản với công nghệ hiện đại, phù hợp điều kiện của Việt Nam, nâng cao hệ số thu hồi khoáng sản và mức độ chế biến sâu khoáng sản.
- Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, thăm dò khai thác và chế biến khoáng sản trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động khoáng sản, đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ tài nguyên. Thí điểm việc đấu giá quyền thăm dò, khai thác khoáng sản để tiến tới thực hiện rộng rãi phương pháp quản lý trên.

- Không khuyến khích việc hợp tác đầu tư đối với khâu thăm dò và khai thác khoáng sản, trừ trường hợp đặc biệt (đối với dầu khí, than đồng bằng Sông Hồng, đất hiếm v.v ) trong giai đoạn đầu cần thu hút kỹ thuật, vốn, thị trường. Hợp tác đầu tư tập trung vào các khâu chế biến sâu các loại khoáng sản bauxit, titan, đất hiếm v.v.
- Tăng cường và xiết chặt công tác quản lý nhà nước về khoáng sản, sửa đổi và bổ sung Luật Khoáng sản để đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ và đầy đủ cho công tác hoạt động khoáng sản.

Về thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản

- Khoáng sản than: Đẩy mạnh thăm dò phần sâu dưới -300m đối với các mỏ ở bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, Quảng Nam; lựa chọn một số khu vực có triển vọng nhất ở vùng đồng bằng Sông Hồng, thăm dò đến mức sâu -1000m. Đầu tư mới và cải tạo, mở rộng khai thác phần sâu một số mỏ ở bể than Quảng Ninh; cải tạo nâng cấp các khu công nghiệp tuyển than tập trung tại Quảng Ninh, Thái Nguyên đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn môi trường; lựa chọn phương pháp khai thác thử nghiệm tại một số khu vực thuộc bể than đồng bằng sông Hồng bảo đảm an toàn môi trường, không ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã hội trên mặt đất, làm cơ sở đề xuất giải pháp khai thác tổng thể bể than giai đoạn sau năm 2020;
- Khoáng sản phóng xạ (urani): Hoàn thành thăm dò quặng urani ở các mỏ Pà Lừa - Pà Rồng, Khe Hoa - Khe Cao tại Quảng Nam và một số khu vực có triển vọng khác; nghiên cứu công nghệ, hoàn thiện quy trình chế biến urani kỹ thuật và các giải pháp an toàn trong khai thác, chế biến quặng urani, phục vụ nhu cầu nguyên liệu cho các Nhà máy điện nguyên tử.

- Khoáng sản kim loại
+ Quặng titan - zircon: Thăm dò, khai thác quy mô lớn cung cấp nguyên liệu cho dự án chế biến sâu tập trung tại khu vực Lương Sơn, tỉnh Bình Thuận. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy chế biến sâu quặng titan (rutil nhân tạo, pigment, titan xốp, titan kim loại) theo hướng sử dụng công nghệ tiên tiến, không gây ô nhiễm môi trường. Hình thành ngành công nghiệp khai khoáng titan - zircon tương xứng với tiềm năng tài nguyên đã phát hiện. Quy hoạch vùng dự trữ khoáng sản quốc gia theo giai đoạn tại Bình Thuận để triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên mặt đất.
+ Quặng bauxit: Hoàn thành công tác thăm dò các mỏ bauxit vùng Tây Nguyên, Bình Phước đã được điều tra, đánh giá. Triển khai hoạt động khai thác mỏ Tân Rai, mỏ Nhân Cơ phục vụ nguyên liệu cho 02 dự án sản xuất alumin tại Lâm Đồng, Đắk Nông. Việc triển khai các dự án khai thác, sản xuất alumin khác tại Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước chỉ thực hiện sau khi 02 dự án trên đi vào hoạt động và được đánh giá hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu khả thi dự án sản xuất nhôm tại Việt Nam để triển khai sau năm 2015.
+ Quặng sắt: Triển khai thăm dò đối với các mỏ có tiềm năng tại tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Phú Thọ, Bắc Kạn, Quảng Ngãi. Hoạt động khai thác phải gắn với địa chỉ sử dụng, phục vụ dự án sản xuất gang, thép trong nước, không xuất khẩu quặng sắt.
+ Quặng đất hiếm: Hoàn thành công tác thăm dò đối với các mỏ đất hiếm ở Lai Châu, Lào Cai. Triển khai dự án khai thác, chế biến quặng đất hiếm tại mỏ Đông Pao (Lai Châu) và Yên Phú (Yên Bái).

+ Quặng đồng: Hoàn thành công tác thăm dò các mỏ đồng tại tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái, Sơn La. Đầu tư mở rộng cơ sở chế biến đồng kim loại tại Lào Cai. Các dự án khai thác phải gắn với địa chỉ sử dụng cho các dự án chế biến trong nước; không xuất khẩu quặng đồng.

+ Quặng chì - kẽm: Thăm dò phần sâu và khu vực mở rộng các mỏ Chợ Điền, Chợ Đồn nhằm bổ sung trữ lượng quặng cho các dự án đang khai thác; hoàn thành thăm dò các mỏ có tiềm năng ở Điện Biên, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng. Việc khai thác quặng chỉ phục vụ cho dự án chế biến sâu thành kim loại chì, kẽm; không xuất khẩu quặng chì - kẽm. Các khu vực quặng mới phát triển tại Bắc Kạn, Cao Bằng đưa vào khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.
+ Quặng mangan: Hoàn thành công tác thăm dò tại khu vực có tiềm năng tại tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng để khai thác làm nguyên liệu cho dự án chế biến feromangan, mangan điện giải EMD phục vụ nhu cầu trong nước; không xuất khẩu quặng mangan và sản phẩm sau chế biến.
+ Quặng cromit: Căn cứ nhu cầu sử dụng sản phẩm chế biến từ quặng cromit trong các ngành công nghiệp đến năm 2030 để cấp khai thác, chế biến phù hợp với nhu cầu sử dụng; cân đối giữa khai thác với dự trữ quốc gia hình thành khu công nghiệp khai thác, chế biến cromit tại Cổ Định, tỉnh Thanh Hóa. Không xuất khẩu quặng cromit và sản phẩm sau chế biến.
+ Khoáng sản vàng: Chỉ thăm dò, khai thác đối với mỏ vàng gốc. công tác chế biến quặng vàng phải sử dụng công nghệ tiên tiến, không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, nguồn nước; không thăm dò, khai thác vàng sa khoáng.
+ Đối với các loại khoáng sản kim loại khác: Thực hiện thăm dò, khai thác phải gắn với dự án chế biến sâu chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước, không xuất khẩu quặng và sản phẩm sau chế biến.

- Khoáng sản không kim loại
+ Khoáng sản làm nguyên liệu xi măng: Thăm dò, khai thác các mỏ phục vụ các dự án xi măng trong quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng đã phê duyệt. Không khai thác đá vôi tại khu vực sườn núi dọc theo hai bên đường quốc lộ để bảo vệ cảnh quan.
+ Khoáng sản đá vôi trắng: Khai thác quy mô lớn và chế biến tập trung đá vôi trắng tại Nghệ An, Yên Bái; hạn chế khai thác quy mô nhỏ; không xuất khẩu đá khối.
+ Khoáng sản làm nguyên liệu gốm sứ - thủy tinh: Thăm dò, khai thác các khu vực kaolinh, felspat tại Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Bình Dương, Bình Phước, Kon Tum phục vụ nguyên liệu dự án sản xuất gạch men, gốm sứ. Thăm dò, khai thác các mỏ cát trắng tại Quảng Ninh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Khánh Hòa phục vụ nguyên liệu cho dự án chế biến thủy tinh, khuôn đúc, men frit, gạch không nung.
+ Khoáng sản làm nguyên liệu ốp lát: Thăm dò, khai thác đá granit, gabro ốp lát tại các tỉnh Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Tây Ninh và các mỏ đá trầm tích ốp lát tại Cao Bằng, Thái Nguyên, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An phục vụ nhu cầu xây dựng. Không xuất khẩu đá khối.
+ Quặng apatit: Hoàn thành thăm dò mở rộng, thăm dò bổ sung đối với các diện tích đã điều tra. Nghiên cứu công nghệ sử dụng quặng loại 2, để đầu tư các dự án chế biến. Việc cấp phép khai thác mỏ phải gắn với các dự án chế biến, sản xuất phân lân, DAP, sản xuất photpho, phân lân nung chảy; không xuất khẩu quặng apatit. Cân đối nhu cầu sử dụng trong nước để điều chỉnh khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia.
- Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường
Khai thác chế biến khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường phải gắn với an toàn lao động, bảo vệ cảnh quan và môi trường. Không khai thác vật liệu xây dựng ở chân sườn đồi, núi, dọc theo các tuyến đường quốc lộ để bảo vệ cảnh quan.
- Các khoáng sản nước nóng, nước khoáng
Đẩy mạnh thăm dò xác định trữ lượng, chất lượng các nguồn nước khoáng, nước nóng để khai thác sử dụng có hiệu quả, hợp lý theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
- Đối với dầu khí: Thực hiện theo Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt với mục tiêu “Phát triển ngành Dầu khí trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đồng bộ, bao gồm: Tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu”.

Về khoa học và công nghệ
Tiếp tục đổi mới và hiện đại hoá công nghệ, thiết bị khai thác và chế biến khoáng sản, đảm bảo khai thác tiết kiệm, tối đa tài nguyên, tăng cường chế biến sâu khoáng sản để gia tăng giá trị kinh tế của khoáng sản.
Về bảo vệ môi trường
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức về Bảo vệ môi trường (BVMT);
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về công tác BVMT;
- Đầu tư xây các công trình BVMT và phòng ngừa sự cố môi trường trong ranh giới mỏ, các công trình khắc phục môi trường ngoài ranh giới mỏ tại các địa phương hoạt động khoáng sản.
- Tăng cường và tiến tới bắt buộc sử dụng các công nghệ thân thiện với môi trường;
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.


Về hợp tác đầu tư
Một số lĩnh vực cần hợp tác đầu tư:
- Thăm dò, khai thác than Đồng bằng Sông Hồng đồng bộ với việc đầu tư Tổ hợp Nhà máy nhiệt điện chạy than tại khu vực này.
- Hợp tác đầu tư đồng bộ Tổ hợp Nhà máy điện-nhà máy điện phân nhôm tại VN để sử dụng alumin sản xuất tại VN.
- Hợp tác đầu tư Nhà máy điện phân nhôm tại nước ngoài (nơi có nguồn điện và giá hợp lý) sử dụng alumina sản xuất tại VN. Đầu mối hợp tác phía VN là Tập đoàn VINACOMIN.
- Hợp tác đầu tư nhà máy chế biến sâu tinh quặng titan (pigment, titan kim loại) tại VN.
- Hợp tác đầu tư tuyển để làm giàu quặng apatit loại 2 (15% ≥P2O5 ≤ 28%) và loại 4 (P2O5 ≤ 15%) lên loại 1 (P2O5 ≥ 32%). Đầu mối hợp tác phía VN là Tập đoàn VINACHEM.



Công thương điện tử

11/11/2015

Nâng cao hiệu quả vận hành các nhà máy nhiệt điện
Thứ tư - 28/10/2015 14:45
Dự kiến đến năm 2020, tổng công suất các nhà máy điện của Tổng Công ty Điện lực khoảng 2.880MW. Do đó, nhiệm vụ hàng đầu đặt ra cần phải nâng cao hiệu quả vận hành của các nhà máy như tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu suất tổ máy, đảm bảo tổ máy vận hành liên tục khi tham gia thị trường phát điện cạnh tranh.
Lực lượng trẻ ở Phòng Điều khiển trung tâm - "trái tim" của Nhà máy điện

Lực lượng trẻ ở Phòng Điều khiển trung tâm - "trái tim" của Nhà máy điện
Để thực hiện được nhiệm vụ không kém phần nặng nề ấy, theo lãnh đạo Tổng Công ty Điện lực, Tổng Công ty đã xây dựng và tích cực triển khai nhiều giải pháp. Cụ thể là không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng xử lý sự cố, vận hành của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, nhân viên vận hành. Hàng năm, Tổng Công ty đều tổ chức các hội nghị kỹ thuật để đội ngũ cán bộ kỹ thuật các Nhà máy cùng nhau trao đổi về kinh nghiệm vận hành, xử lý sự cố hoặc đưa ra các vấn đề đang gặp phải mà nhà máy chưa giải quyết được để cùng thảo luận, đưa ra hướng giải quyết. Tổng Công ty cũng đặc biệt tập trung trong công tác quản lý kỹ thuật - xác định đây là khâu then chốt quyết định đến kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của các đơn vị cũng như Tổng Công ty.

Nhằm tối ưu hóa cho hệ thống thiết bị cũng như chế độ vận hành các nhà máy, Tổng Công ty chú trọng hàng đầu vào công tác sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Hàng năm, tính trung bình toàn Tổng Công ty có gần 100 sáng kiến cải tiến kỹ thuật được áp dụng và mang lại hiệu quả cao. Tiêu biểu như: Sáng kiến áp dụng đốt than Na Dương trong quá trình khởi động tổ máy làm giảm thời gian đốt dầu, qua đó tiết kiệm tiêu hao dầu trong các lần khởi động; chuyển đổi phương thức cấp điện tự dùng tại các Nhà máy Sơn Động, Cẩm Phả, qua đó tiết kiệm được chi phí chênh lệch khi phải mua điện EVN về nhà máy...; giảm tỷ lệ các - bon không cháy hết trong tro bằng cách hiệu chỉnh lại các thông số vận hành, nghiên cứu áp dụng các chất phụ gia để thúc đẩy quá trình cháy trong lò, nâng cao hiệu suất tổ máy.

Với nhiều phương án, các đơn vị trong Tổng Công ty đã nỗ lực giảm các sự cố do nguyên nhân chủ quan bằng cách sau mỗi lần sự cố xảy ra tiến hành họp kiểm điểm, phân tích nguyên nhân sự cố và đưa ra các biện pháp xử lý để nhanh nhất đưa tổ máy vào vận hành trở lại, hạn chế thấp nhất sự cố mang tính lặp lại. Từ đó, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác kỹ thuật và có các chế tài xử phạt những trường hợp vi phạm quy trình kỹ thuật, gây mất an toàn.

Mặt khác, để khắc phục hiện tượng mài mòn gây bục ống trong lò, các đơn vị tính toán, xử lý hiệu chỉnh lại chế độ khói gió trong lò, đo đạc chiều dày ống sinh hơi sau mỗi lần dừng, lập bảng thống kê độ mài mòn ống sinh hơi để lên kế hoạch sửa chữa, thay thế; nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới như khớp nối thủy lực, biến tần cho những động cơ công suất lớn nhằm giảm điện tự dùng.

Đồng thời với việc quản lý chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào như than, chất lượng nước, hóa chất cho xử lý nước theo đúng thiết kế kỹ thuật nhằm đảm bảo tổ máy vận hành liên tục, ổn định và hiệu suất cao, tùy đặc thù, các đơn vị trong Tổng Công ty Điện lực thường xuyên kiểm tra bảo dưỡng sửa chữa thiết bị theo đúng yêu cầu của nhà sản xuất, qua đó giữ thiết bị vận hành ở hiệu suất cao nhất và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện của tổ máy. Song song với đó, mỗi CBCNV - LĐ không ngừng nâng cao ý thức tiết kiệm trong công việc, trong quá trình vận hành thiết bị và dây chuyền công nghệ.

Tác giả bài viết: T.Linh

11/11/2015

Hội thảo Quy hoach phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 điều chỉnh

Ngày 01/9/2015, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội thảo Quy hoach phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 điều chỉnh. Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng chủ trì Hội thảo.



Điều chỉnh để phù hợp thực tế

Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng khẳng định: Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 (gọi tắt là Quy hoạch 60) đã và đang thực hiện có hiệu quả, đảm bảo cung cấp đủ than cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, điều hành và bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước. Tuy nhiên, sau 3 năm thực hiện Quy hoạch 60, do tốc độ phát triển các ngành công nghiệp, nhu cầu sử dụng than của các hộ tiêu thụ chủ yếu như nhiệt điện chạy than, xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng, luyện kim, hoá chất, giấy... có nhiều thay đổi; kết quả thăm dò tài nguyên than trong những năm qua cũng cho thấy điều kiện tài nguyên, một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo tính hiện thực của Quy hoạch cũng có nhiều thay đổi, cần được cập nhật, đánh giá và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng phát biểu khai mạc Hội thảo

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 02/VPCP-ĐMDN ngày 02/01/2014 của Văn phòng Chính phủ về việc giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 8358/QĐ-BCT ngày 18/9/2014 và Quyết định số 3852/QĐ-BCT ngày 21/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc phê duyệt đề cương lập Dự án Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 (gọi tắt là Quy hoạch 60 điều chỉnh). Theo đó, Bộ Công Thương đã giao Công ty cổ phần đầu tư Mỏ và công nghiệp – Vinacomin (VIMCC) là Tư vấn lập quy hoạch thực hiện việc lập và đã hoàn thành Dự án Quy hoạch 60 điều chỉnh.

Thứ trưởng Cao Quốc Hưng đề nghị, tại Hội thảo, các đại biểu sẽ tham luận khách quan và khoa học trong phân tích, đánh giá các vấn đề của Quy hoạch 60 điều chỉnh, nhằm đóng góp các ý kiến có chất lượng; để từ đó, Bộ Công Thương hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt vào cuối năm 2015.

Phó Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư Mỏ và công nghiệp – Vinacomin Lê Văn Duẩn

Đại diện Công ty cổ phần đầu tư Mỏ và công nghiệp – Vinacomin, Phó Giám đốc Lê Văn Duẩn đã báo cáo các chuyên đề của Tư vấn lập quy hoạch bao gồm: Tài nguyên – trữ lượng và công tác thăm dò; Phân giao quản lý tài nguyên giữa TV và Tổng công ty Đông Bắc; Quy hoạch khai thác, sàng tuyển, vận tải ngoài và cảng xuất, nhập khẩu than; Dự báo nhu cầu sử dụng than và nguồn nhập khẩu; Phân tích kinh tế - tài chính và các giải pháp thực hiện Quy hoạch 60 điều chỉnh.

Theo đó, tổng tài nguyên trữ lượng than Việt Nam đã được điều tra, đánh giá và thăm dò tính đến hết năm 2014 là 46.961.435 ngàn tấn. Trong đó trữ lượng và tài nguyên chắc chắn và tin câỵ là 3.585.316 ngàn tấn (chiếm 8%), tài nguyên dự tính là 2.296.329 ngàn tấn (chiếm 5%), tài nguyên dự báo là 41.079.727 ngàn tấn (chiếm 87%).

Tính đến hết năm 2014, toàn ngành than đã triển khai thăm dò 27 đề án. Tuy khối lượng khoan thăm dò đạt thấp so với Quy hoạch (giai đoạn đến 2015) nhưng đã làm sáng tỏ thêm điều kiện địa chất và trữ lượng than, đáp ứng kịp thời công tác sản xuất của mỏ và nâng cấp tài nguyên trữ lượng phục vụ lập các dự án đầu tư mới.

Định hướng để phát triển bền vững

Tham luận tại Hội thảo, ông Ngô Sơn Hải - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam cho biết hiện nay nhu cầu than cho phát điện đang tăng cao, đặc biệt từ năm 2020 trở đi. Về phía Quy hoạch, nên chú trọng nguồn than cung cấp cho khu vực phía Nam. Trường hợp rủi ro như mưa lũ, cần xây dựng các phương án dự phòng, đảm bảo cung cấp đủ, đều cho cả nước, đặc biệt là tại khu vực phía Nam, đề phòng trường hợp thiếu hụt nguyên liệu thời gian dài gây ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh.


Theo Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) Khuất Mạnh Thắng, nhu cầu sử dụng than cho sản xuất và tiêu dùng thời gian tới sẽ ngày càng tăng cao. Do đó, ông đề nghị đưa vào Quy hoạch nhu cầu sử dụng theo mùa để cân đối và phân bổ nguồn cung một cách hiệu quả và hợp lý. Phó Tổng giám đốc Khuất Mạnh Thắng TKV cũng đề nghị TKV sẽ tiếp tục là đơn vị chủ trì thực hiện Quy hoạch 60 điều chỉnh và đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục cấp phép thăm dò, các địa phương có sự phối hợp chặt chẽ, các chuyên gia trong và ngoài nước tiếp tục tham gia tư vấn để triển khai các dự án kịp tiến độ và đạt hiệu quả cao.

Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Đông Bắc Phạm Ngọc Tuyển

Đại diện Tổng công ty Đông Bắc, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Phạm Ngọc Tuyển có ý kiến về phân tích tài nguyên, theo đó, cần đưa ra một nguyên tắc chung - phát triển hài hòa và bền vững - vì tài nguyên là của chung, của toàn dân, do Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý. Quy hoạch phải tính đến tầm nhìn dài hạn, tính đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 nhưng làm thế nào để sau năm 2030 tiếp tục có sự phát triển bền vững, hài hòa.

Ông Nguyễn Thành Sơn, nguyên Giám đốc Ban quản lý các dự án than Đồng bằng Sông Hồng (thuộc TKV) nhấn mạnh: ngành than nước ta đang từ xuất khẩu chuyển sang nhập khẩu, do vậy, Quy hoạch cần tính đến và lường trước các tình huống xảy ra. Bên cạnh đó, một số hầm lò không khả thi cần xem xét lại trước khi khai thác; các trụ bảo vệ cần phải được giữ lại; quy hoạch đổ thải cần được chú ý thỏa đáng, đảm bảo vệ sinh môi trường.

Đồng tình với các ý kiến tham luận tại Hội thảo, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương) Nguyễn Khắc Thọ chia sẻ, câu chuyện nhập khẩu than hiện tại và trong tương lai sẽ rất khó khăn vì ngoài lượng còn phải chú ý đến chủng loại, thời gian nhập. Đại diện Tổng cục Năng lượng nhấn mạnh thêm, quy hoạch sản lượng phải hướng tới định hướng phát triển ngành than bền vững. Lựa chọn mức sản lượng như thế nào cũng cần tính toán cho phù hợp, gắn liền với chiến lược nhập khẩu của toàn ngành cũng như cả nước. Về lâu dài, cần xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của Bể than Đồng bằng Sông Hồng trong quy hoạch đến 2020 và sau đó.
Thứ trưởng Cao Quốc Hưng đánh giá rất cao những ý kiến tại Hội thảo

Kết luận Hội thảo, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng đánh giá cao những ý kiến góp ý thẳng thắn, tích cực của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý chuyên môn liên quan đến ngành than. Thứ trưởng nhấn mạnh, cần xác định Quy hoạch hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Với tư duy cởi mở, góp ý khách quan, những đóng góp cho Quy hoạch điều chỉnh mới sâu và sát thực tế, đảm bảo mục tiêu ngành than Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai.

Address

171 Vo Thi Sau, Ward 7, District 3
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00

Telephone

+84839320177

Website

http://www.vietcham-expo.com/

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Vietchamexpo posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Vietchamexpo:

Share